
Tình hình chăn nuôi cả nước được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố trong Báo cáo Tình hình Kinh tế – xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026, ngày 03/7/2026 như sau:
Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục xu hướng giảm do hiệu quả kinh tế không cao, diện tích chăn thả tự nhiên bị thu hẹp, nguồn thức ăn thô xanh giảm, trong khi giá thức ăn chăn nuôi vẫn ở mức cao. So với cùng thời điểm năm trước, một số địa phương có số lượng trâu giảm nhiều: Cao Bằng giảm 12,9%; Thanh Hóa giảm 10,0%; Tuyên Quang giảm 9,1%; Quảng Ngãi giảm 8,5%; Phú Thọ giảm 7,9%; một số địa phương có số lượng bò giảm nhiều: Thanh Hóa giảm 9,0%; Khánh Hòa giảm 7,2%; Phú Thọ giảm 6,3%; Quảng Trị giảm 6,0%; Vĩnh Long giảm 5,9%.
Đàn lợn phát triển ổn định do chăn nuôi nông hộ chuyển mạnh sang bán công nghiệp, liên kết với doanh nghiệp, nhiều địa phương đẩy mạnh chăn nuôi an toàn sinh học, sử dụng giống có năng suất cao; đồng thời khu vực doanh nghiệp và trang trại quy mô lớn tiếp tục mở rộng. Một số địa phương có quy mô đàn lợn tăng cao so với cùng thời điểm năm trước như: Lâm Đồng tăng 5,5%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 4,5%; Đồng Nai tăng 4,2%; Phú Thọ tăng 3,8%; Bắc Ninh tăng 3,1%.
Tốc độ tăng số lượng gia súc, gia cầm cuối tháng 6/2026 so với cùng thời điểm năm trước
Chăn nuôi gia cầm phát triển tốt nhờ chu kỳ nuôi ngắn, khả năng quay vòng vốn nhanh, mức đầu tư ban đầu thấp hơn so với nuôi gia súc, phù hợp với điều kiện của nhiều hộ chăn nuôi. Nhiều địa phương tiếp tục tăng đàn gia cầm so với cùng thời điểm năm trước: Cần Thơ tăng 8,5%; Lâm Đồng tăng 7,2%; Nghệ An tăng 7,1%; Đắk Lắk tăng 6,8%; Quảng Trị tăng 6,7%. Tuy nhiên, thời gian vừa qua, sự thành công của nuôi gà đẻ trứng đã kích thích một lượng lớn hộ chăn nuôi gà thịt chuyển sang nuôi gà đẻ trứng. Cụ thể, đàn gà đẻ trứng tại thời điểm 01/4/2026 tăng trên 10% so với cùng kỳ năm 2025, khiến sản lượng trứng tăng cao trong thời gian ngắn, giá trứng gà quý II/2026 giảm 2,67% so với quý trước, dẫn đến lượng trứng gà tồn đọng lớn gây khó khăn trong khâu tiêu thụ. Vì vậy, cần đẩy mạnh liên kết theo chuỗi, tăng cường chế biến, xuất khẩu và tiêu thụ trong nước, cảnh báo, hỗ trợ người sản xuất khi nguồn cung có dấu hiệu vượt cầu.
Biểu 1. Sản lượng một số sản phẩm chăn nuôi chủ yếu
| Ước tính
Quý II/2026 |
Cộng dồn
6 tháng năm 2026 |
Tốc độ tăng so với
cùng kỳ năm trước (%) |
||
| Quý II/2026 | 6 tháng năm 2026 |
|||
| Sản lượng thịt hơi xuất chuồng (Nghìn tấn) | ||||
| Thịt lợn | 1.417,7 | 2.864,1 | 4,7 | 4,8 |
| Thịt gia cầm | 677,4 | 1.340,7 | 5,6 | 5,6 |
| Thịt trâu | 32,7 | 67,6 | 1,8 | 1,6 |
| Thịt bò | 131,2 | 267,8 | 1,2 | 1,3 |
| Trứng (Triệu quả) | 5.251,5 | 10.756,8 | 1,7 | 2,6 |
| Sữa (Triệu lít) | 342,1 | 683,7 | 5,6 | 5,2 |
Tính đến ngày 25/6/2026, cả nước không còn dịch lở mồm long móng và dịch tai xanh; dịch cúm gia cầm còn ở 15 địa phương; dịch viêm da nổi cục còn ở 09 địa phương và dịch tả lợn châu Phi còn ở 28 địa phương chưa qua 21 ngày.
Theo Tâm An (nhachannuoi.vn)