Tình hình chăn nuôi tháng 9.2026

Tin Tức – 07/10/2026
Tình hình chăn nuôi tháng 9.2026

[Chăn nuôi Việt Nam] – Theo nguồn tin của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, tình hình ngành chăn nuôi tháng 9.2026 như sau:

 Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục xu hướng giảm chủ yếu do diện tích chăn thả bị thu hẹp và hiệu quả kinh tế không cao.

Chăn nuôi lợn chịu tác động đan xen của các yếu tố thuận lợi và khó khăn. Giá lợn hơi xuất chuồng có xu hướng tăng. Cụ thể, chỉ số giá sản phẩm chăn nuôi lợn bình quân chín tháng năm 2026 tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó quý III tăng 0,7%, tạo điều kiện để người chăn nuôi duy trì sản xuất và tái đàn trong khi đó giá thức ăn chăn nuôi tăng trong chín tháng làm gia tăng chi phí đầu vào, gây áp lực đến hiệu quả chăn nuôi. Một số địa phương có đàn lợn tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Gia Lai tăng 13,2%; Tuyên Quang tăng 12,2%; Phú Thọ tăng 10,5%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 5,9%.

Chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển nhờ khả năng thích ứng tương đối tốt với biến động của thị trường, chu kỳ nuôi ngắn, thời gian quay vòng vốn nhanh và nhu cầu tiêu dùng thịt, trứng cơ bản ổn định. Việc phát triển chăn nuôi trang trại khép kín và liên kết với doanh nghiệp cũng góp phần nâng cao khả năng kiểm soát dịch bệnh. Một số địa phương có đàn gia cầm tăng khá: Nghệ An tăng 7,0%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,3%; Tây Ninh tăng 5,6%; Thanh Hóa tăng 4,8%; Đồng Nai tăng 4,6% và Bắc Ninh tăng 4,4%.

Để ngành chăn nuôi phát triển bền vững, người chăn nuôi cần kết nối với các doanh nghiệp tiêu thụ, chế biến tạo thành chuỗi khép kín từ trang trại đến bàn ăn; tận dụng các nguồn nguyên liệu sẵn có để thay thế một phần thức ăn công nghiệp hoặc tận dụng phụ phẩm để làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, qua đó không chỉ góp phần bảo vệ môi trường mà còn giảm chi phí đầu vào và nâng cao thu nhập cho người chăn nuôi.

 Bảng 1. Một số sản phẩm chăn nuôi chủ yếu

  Ước tínhquý III/2026 Cộng dồn         9 tháng
năm 2026
Tốc độ tăng so với
cùng kỳ năm trước (%)
  Quý III/2026 9 tháng
năm 2026
Sản lượng thịt hơi xuất chuồng (Nghìn tấn)      
Thịt lợn 1.394,8 4.279,9 5,2 4,4
Thịt gia cầm 661,9 2.023,3 5,2 5,3
Thịt trâu 30,1 98,6 0,1 1,3
Thịt bò 128,1 396,4 1,8 1,3
Trứng (Triệu quả) 5.113,0 15.706,7 3,9 1,9
Sữa (Nghìn tấn) 326,0 1.006,3 4,7 5,0

 

Tính đến ngày 25/9/2026, cả nước không còn dịch tai xanh và dịch lở mồm long móng; dịch viêm da nổi cục còn ở Cao Bằng, Tuyên Quang, Đắk Lắk; dịch cúm gia cầm còn ở 6 địa phương và dịch tả lợn châu Phi còn ở 22 địa phương chưa qua 21 ngày.

Theo Tâm An (nhachannuoi.vn)